Thiền định và trị liệu

Thứ sáu - 17/05/2013 14:04

Thiền định và trị liệu

Trên phương diện sức khỏe, thiền định được xem như một nghệ thuật thư giãn, trong cố gắng giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau đớn, tạo cảm giác an lạc, giúp quân bình thân tâm và trị liệu các chứng bệnh.

          Trên phương diện sức khỏe, thiền định được xem như một nghệ thuật thư giãn, trong cố gắng giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau đớn, tạo cảm giác an lạc, giúp quân bình thân tâm và trị liệu các chứng bệnh.
          Thái tử Tất Đạt Đa, hơn 2500 năm trước đã nguyện ngồi thiền dưới gốc bồ đề cho đến khi thành Phật Thích Ca. Thiền định gồm có nhiều phương pháp nhằm phát triển chánh niệm, tập trung, thanh tịnh, tỉnh giác và tột đỉnh đạt giác ngộ giải thoát. Những kỹ thuật hành thiền cơ bản được ghi chép trong nhiều kinh sách, cũng như được truyền thừa và đa dạng hóa qua hàng ngàn năm.
          Trên phương diện sức khỏe, thiền định được xem như một nghệ thuật thư giãn, trong cố gắng giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau đớn, tạo cảm giác an lạc, giúp quân bình thân tâm và trị liệu các chứng bệnh.
          Chỉ riêng trong Phật giáo cũng đã có hơn 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu tập và số lượng phương pháp hành thiền cùng những chứng bệnh nan y cứ tiếp tục leo thang theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật.
          Trong 5 thập niên qua khoa học và y học càng ngày càng chú ý đến thiền, với nhiều nghiên cứu, để được xem như là phương pháp trị liệu bổ sung thay thế đối với nhiều  bệnh trạng khác nhau như trầm cảm, căng thẳng, lo sợ, mất trí nhớ, đau nhức, mệt mỏi, mất ngủ, cảm cúm, ung thư, AIDS (Sida), tê khớp, tim mạch, viêm gan, tiểu đường, suyễn, nghiện ngập, tăng tiến tuổi thọ, v.v,… Ngay chính những tư tưởng tiêu cực, căng thẳng, xúc động và ưu phiền trong cuộc sống làm cho bệnh trạng càng thêm trầm trọng và nguy hiểm. Thiền định chú trọng và có tác dụng làm cho thân tâm được lắng dịu thanh tịnh, từ đó những trăn trở khổ đau do bệnh tật gây nên cũng được thiên giảm hay tiêu trừ.
          Đức Phật cũng là bậc y sư khi thuyết về câu chuyện người trúng mũi tên độc, không lo nhổ mũi tên, hút máu độc và dùng thuốc rịt vết thương cho lành, mà cứ bâng khuâng muốn tìm hiểu ai đã bắn mình và vì sao bị bắn, v.v,… thì e đã quá trễ, không còn cứu được sinh mạng. Thật ra trong câu chuyện ẩn dụ này, Đức Phật muốn khuyên nhủ một tỳ kheo nên chuyên chú tu hành hơn là mất thì giờ để tâm vào những tìm hiểu khoa học viển vông như thế giới này là hữu biên hay vô biên, nguồn gốc phát sinh loài người, v.v,…
         Trong thời buổi văn minh tiến bộ này, không phải tất cả mọi sự kiện đều được khoa học giải thích rõ ràng, hoặc những gì được khoa học chứng minh đều là đúng. Tuy vậy “nói có sách mách có chứng” hay căn cứ vào những gì đã được nghiên cứu và công nhận thì vẫn được nhiều người nghe hơn.


Thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền.

          Những tác dụng và ảnh hưởng của thiền định có thể được thể hiện dưới 3 cơ chế sau đây.
          Cơ chế Tín ngưỡng
          Tư tưởng Phật giáo không chủ trương thần thánh hóa, tôn thờ một thần linh hay đấng thượng đế nào. Do đó nhiều khi Đạo Phật được xem không phải là một tôn giáo để tín đồ cầu xin phép lành, ân huệ, hay cứu rỗi như trong các đạo khác. Giáo lý nhà Phật rất thực tiễn và thấu triệt: mọi sự vật đều bị chi phối bởi vô thường biến đổi, nhân quả nghiệp duyên và trầm luân sinh tử. Thiền định được xem như trái tim của nhà Phật và là trung tâm của đời sống đạo hạnh giúp đạt đến mức độ cao xa của tỉnh giác. Từ trạng thái vô minh hay tiêu cực mê mờ của tâm, tiến lên trạng thái tích cực sáng suốt hay minh tâm kiến tánh. Mọi chúng sanh đều có Phật tánh (chơn tâm, bản lai diện mục) hay cái tâm thuần khiết trong sáng, nhưng bị những phiền não tham – sân – si che lấp như án mây đen phủ kín bầu trời. Thiền định có công năng giúp tâm được thanh lọc dứt trừ mọi cấu nhiễm, đạt an lạc thanh tịnh và giác ngộ giải thoát như trời quang mây tạnh, trăng sáng rõ ràng. Cũng chính là lúc ông Phật hiện ngay trong tâm mình không phải tìm kiếm đâu xa. Đó là ý niệm “tức Tâm tức Phật” của Đạo Nhất Mã Tổ, hay hiện tượng đại ngộ “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Kinh Kim Cang) của Lục Tổ Huệ Năng, trụ tâm đến không chỗ trụ mà sanh được tâm kia, cái tâm tĩnh tịch – tròn đầy – trong sáng.
          Vạn pháp do tâm tạo, những bệnh tật khổ đau là do tâm duyên theo trần cảnh, môi sinh ô nhiễm độc hại và cuộc sống bon chen hỗn tạp đầy căng thẳng bức xúc, thì cũng chính tâm sẽ chữa trị chúng qua thiền định.
          Trong Đạo Thiên Chúa, căn bản thần học trong thiền định được xem là nằm tận đáy lòng con chiên, là tâm của Giê-su – người đang cầu nguyện trong con chiên, với con chiên và cho con chiên. Đây là sự quán chiếu diễn tả tột đỉnh đời sống tâm linh và trí thức một cách tích cực trong trạng thái tỉnh giác hoàn tòan.
          Ấn Độ là xứ có truyền thống lâu đời về thiền định, ngay cả trước thời Phật Thích Ca. Theo Ấn Giáo, danh từ thiền định được hiểu như là một trạng thái tĩnh lặng, tỉnh táo và tập trung một cách ráo riết, qua đó tri thức và tỉnh giác được đánh thức dậy từ bên trong, khi chú tâm vào một sự vật hay một dòng tư tưởng cho đến lúc đạt đến và hòa nhập vào sư bình yên thánh thiện, đồng nhất với vũ trụ và thượng đế.
          Trong phép thiền quán niệm hơi thở (Anapana Sati), Đức Phật đã chỉ dạy trong Đại Tạng Kinh Pali (Mahasatipatthana Sutta): Tỳ kheo tìm đến khu rừng, dưới gốc cây hay nơi trống vắng, ngồi tréo chân, giữ lưng thẳng, chú ý hơi thở ra vào nơi chóp mũi và khởi lên chánh niệm trước mình.
          Khi chánh niệm được duy trì, hơi thở càng trở nên nhẹ nhàng lặng lẻ, thân thể được êm dịu thanh thản như có cơn gió nhẹ thoáng qua. Với sự tĩnh lặng của tâm, hơi thở càng trở nên vi diệu cho đến lúc có cảm giác như ngừng thở, kéo dài trong nhiều phút, nhưng thật sự hơi thở vẫn tồn tại. Dần dà tâm được giải phóng khỏi 5 triền cái (ham muốn, giận hờn, hôn trần, trào hối và nghi hoặc). Hành giả càng đạt thêm sự bình thản và an lạc. Các thiền tướng bắt đầu xuất hiện báo hiệu thành quả của chánh định. Hành giả bắt dầu vào cận định (upacara samadhi) và khi chánh định phát triển thêm nữa sẽ đạt đến toàn định (appana samadhi). Đến đây khai thông cho sự chứng đạt nhất thiền, và tiếp tục miên mật sẽ vào các quả thiền cao hơn: nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Hành giả tiếp tục phát triển chánh niệm qua tuệ quán (Vipassana). Ở mức độ cao hơn, tâm trạng như được thoát tục và bắt đầu vào giai đoạn nhập lưu, rồi tiến lên các quả vị thanh văn khác trong chánh định. Khi mọi xiềng xích trói buộc không còn dính mắc, dứt sạch ngã chấp, chứng quả vi thanh văn thứ tư – A La Hán, ra khỏi luân hồi sanh tử. Hầu hết những đệ tử lớn của Phật đều chứng đạt quả vị này, ngoại trừ Đề Bà Đạt Đa mưu toan giết Phật để được làm Phật.
          Cơ chế Tâm lý
          Tâm lý chung là khi những căng thẳng hay phiền não dấy lên báo hiệu sự giày vò tâm trí, người ta có khuynh hướng làm cho chúng lắng dịu thay vì phải chịu đựng. Khi một chuỗi tư tưởng loạn động gây ra biến cố bứt rứt tâm trí, hành giả an trú trong thiền định qua sự tập trung hay quán chiếu vào một đề mục làm cho chúng tan biến đi. Từ đó đem tâm trở về trạng thái bình yên, tạo dựng thái độ không còn sợ hãi khiếp nhược, là hiệu quả và đặc tính căn bản của thiền định.
          Một cơ chế khác về tâm lý là sự thiếu lưu thông giữa các cơ năng tâm thần, gây nên sự bức bách ứ đọng bên trong. Rất thường xuyên, các hiện tượng như lời nói, tưởng tượng, xúc cảm là những ngăn kín chật hẹp mà thiền định là nhịp cầu giúp chúng được thông thoáng hòa hợp với nhau. Chẳng hạn thường xuyên đặt sự chú ý của tâm vào những tác động lên thân – khẩu – ý là một phương cách thông thoáng hữu hiệu nhất.
          Trái lại, nếu lạm dụng thiền định như một hành vi đè nén, ức chế tâm thì có khi phải gánh chịu những hậu quả khốc hại, như trong trường hợp quá cuồng tín theo một phép thiền sai lệch. Chẳng hạn khi hành giả niệm tên các vị thần linh hay các thần chú vô nghĩa cả hàng ngàn lần, cho đến khi trở thành nhàm chán, tâm trí mờ mịt, lạc vào thế giới mộng du ảo tưởng, không còn lý luận hay phán đoán được gì. Từ đó phát sinh những cảm thọ hỉ lạc giả tưởng, không thể phân biệt qúa khứ, hiện tại, vị lai hoặc ngay cả sự chết. Đây là trường hợp bị “tẩu hỏa nhập ma” mà chính đương sự không hề hay biết, chỉ có người ngoại cuộc mới nhận thấy những hành vi bất thường, điên dại của mình qua sinh hoạt hàng ngày. Do vậy, trong lúc ngồi thiền, phải luôn cảnh giác, tỉnh thức, và giữ chánh niệm. Nếu cảm thấy quá si mê hôn trầm thì nên đứng lên hay rời khỏi bồ đoàn.
          Có một hiện tượng tâm bệnh xảy ra cho một tu sĩ trẻ tuổi tại ngoại ô Lhasa (Tây Tạng). Tu sĩ này sinh tâm không thích ngôi chùa mình đang tu tập, nằm ngay dưới chân một ngọn đồi, mà lại phóng tâm ưa thích một ngôi trường kế cận. Từ đó tu sĩ khởi sinh một ý tưởng là mong cho ngọn đồi trượt xuống và đè bẹp lên ngôi chùa trong khi ngôi trường thì vẫn còn nguyên vẹn. Thế rồi cái tâm bất thiện này cứ bủa vây trong đầu óc người tu sĩ, đến nổi biến thành chứng nhức đầu bứt rứt và thần kinh khủng hoảng. Cuối cùng tu sĩ  thú thật và xin vị trụ trì ngôi chùa cứu giúp. Thầy trụ trì khuyên từ đây luôn luôn quán niệm cho ngọn đồi thật sự đè nát ngôi chùa, đè bẹp mọi thứ trong chùa kể cả thân mạng của chính mình. Người tu sĩ trẻ làm y lời thầy và chỉ trong một thời gian ngắn thì hết chứng đau đầu và không còn ảo tưởng này nữa.
          Chung quy, điểm căn bản trong tiến trình hành thiền là sư chú tâm, và quan trọng hơn hết, chú tâm là một sự thực hành trong kiên nhẫn chứ không phải lý thuyết gì xa xôi. Có một thiền sinh cảm thấy rất khổ sở vì không đạt được thành quả trong công phu hành thiền nên đến yết kiến thiền sư của mình và nhờ chỉ cho cách vượt qua chướng ngại. Vị thiền sư đang trong thời kỳ tịnh khẩu nên chỉ viết ra trên giấy chữ “chú tâm”. Thiền sinh không hiểu nên nhờ thầy giảng thêm. Thiền sư lại viết thêm “chú tâm, chú tâm” và trao cho đệ tử. Người đệ tử vẫn không đạt được ý thầy mình muốn nói gì nên đòi giải thích thêm nữa. Cuối cùng thiền sinh nhận đươc toàn bài học trên giấy: “chú tâm, chú tâm, chú tâm… có nghĩa là chú tâm”.
          Cơ chế Sinh lý
          Thật hết sức khó khăn khi phải sử dụng các kỹ thuật và dụng cụ khoa học đề đo lường và kiểm nghiệm những biến chuyển của cơ thể trong lúc hành thiền, nhưng người ta vẫn có thể thực hiện và chứng minh được những tác dụng hữu ích của thiền.
          Cơ thể con người có những phản ứng tự động không qua ý thức để thích ứng với môi trường sống như các phản ứng run rẩy khi rét lạnh, tim đập nhanh khi chạy nhảy, toát mồ hôi khi trời nóng nực, v.v,… Tuy nhiên với những cố gắng có ý thức như qua thiền định người ta cũng có thể điều khiển được những phản ứng tự nhiên này.
          Hành giả lần đầu tiên khi thâm nhập sâu vào thiền định, hơi thở trở nên chậm rãi, nhẹ nhàng, và có khi ngưng trệ hoàn toàn, chính lúc này có thể trải nghiệm đối diện qua cơn sợ hãi bị ngừng thở và sự chết. Nhưng mối nghi được xóa tan ngay qua sự chú tâm vào hơi thở và giữ vững chánh niệm.
          Sự hô hấp giảm thiểu hoặc ngừng trệ gây nên tình trạng “hypoxia” – lượng oxy trong máu giảm hạ, có tác dụng làm phóng thích các hormone (endorphins) gây mê và tạo cảm giác êm ái dễ chịu. Những chứng nghiệm cho thấy các đạo sĩ yogi Ấn Độ có thể điều chỉnh lượng oxy trong máu theo ý muốn của mình và tự chôn sống trong một thời dài mà không hề hấn gì. Các thiền sư Nhật Bản cũng có thể làm giảm nồng độ oxy 20% trong lúc hành thiền. Với thiền tiên nghiệm TM, lượng oxy có thể giảm đến 40% và tỷ lệ hô hấp chỉ còn 50%, nhiều hơn gấp bội so với lúc ngủ mê. Điều này chứng tỏ tác dụng hiệu qủa của thiền định trong tiến trình biến hoá của thân tâm.
          Những khóa thiền kéo dài 30 – 40 phút cho thấy lượng lactate giảm hạ và lượng phenylalanine tăng lên 20% trong các cơ mô. Hành thiền cũng làm cho lượng máu đến thận và gan giảm đi trong khi lượng máu đến não gia tăng, huyết áp gia giảm tạo ảnh hưởng tốt cho các bệnh tim mạch. Tính đối kháng của da cũng gia tăng làm giảm hoạt động giao cảm và nhờ đó đem lại trạng thái thư giãn.
          Những kết qủa thực nghiệm cũng cho thấy việc hành thiền làm giảm những kích thích tố gây căng thẳng như cortisol và ATCH, hormone kích thích tuyến giáp TSH và hormone tăng trưởng; trong khi gia tăng hormone thư giãn serotonin và hợp chất arginine vasopressin giúp cho trí nhớ và sự học tập.
          Kỹ thuật điện não đồ EEG (ElectroEncephaloGraphy) khám phá một điều mới lạ qua hành thiền là làm giảm thiểu các sóng não kích động như beta và delta trong khi gia tăng các sóng có tác dụng êm dịu như alpha, gamma và theta.
          Khoa học gia thần kinh Ric-hard Davidson công bố kết quả nghiên cứu vào đầu năm 2005, khi sử dụng EEG để đo sóng não các vị sư Tây Tạng trong lúc hành thiền từ bi quán. Kết qủa cho thấy các nhà sư luôn luôn có sự hoạt động rất cao của sóng gamma so với người bình thường. Trong thiền định, sự hoạt động của não bộ tập trung ở vùng não phía trước (prefrontal cortex), nơi đây các sóng liên hệ có tác dụng tạo nên sự an lạc và tỉnh giác rất sâu và lâu bền.
          Vài kỹ thuật tinh vi hơn như  fMRI (functional magnetic resonance imaging), cho biết kết quả ngay trong một thời gian ngắn,  được sử dụng đo dòng máu trong não và sự hoạt động của não, cho thấy thiền định không có tác dụng như khi ngủ nghỉ mà là một trạng thái thư giãn trong tỉnh thức.
 

Nguồn tin: www.daophatngaynay.com

Tổng số điểm của bài viết là: 131 trong 31 đánh giá

Xếp hạng: 4.2 - 31 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

. "Sức khỏe là vốn quý nhất của mọi con người và của toàn xã hội; là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và của mọi người dân; là trách nhiệm ... "
(Trích NQ TW4, Khóa VII) .
Bình luận mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây