Thiền với Ki-tô giáo

Thứ hai - 17/06/2013 05:35

Thiền với Ki-tô giáo

Thiền là phương thức không chỉ giúp chúng ta thư giãn, cân bằng cơ thể mà còn có thể giúp ta tiến bộ trong đời sống tâm linh. Chúng tôi xin lược trích bài viết của Lm. Hoàng Sỹ Quý, S.J. gởi đến mọi người cùng đọc và suy ngẫm.

          Thiền là phương thức không chỉ giúp chúng ta thư giãn, cân bằng cơ thể mà còn có thể giúp ta tiến bộ trong đời sống tâm linh. Chúng tôi xin lược trích bài viết của Lm. Hoàng Sỹ Quý, S.J. gởi đến mọi người cùng đọc và suy ngẫm.
          Từ nửa thế kỷ nay, Thiền được phổ biến rộng khắp Âu Mỹ và bắt đầu xâm nhập Việt Nam. Sách về Thiền được dịch, in bán ra ngày càng nhiều, đồng thời những khóa Thiền được tổ chức đó đây, và lác đác có những nhóm hay cá nhân tu sỹ Công giáo đến thọ giáo ở Trúc Lâm Thiền Viện Đà Lạt. Do đó, không thể không tìm hiểu những kỹ thuật tu luyện rất Đông phương ấy, xem ở ngọn của chúng hiện nay trên thế giới ra sao, đồng thời ở gốc là Ấn Độ và Phật giáo, bản chất và hướng nhắm của chúng là gì, có thế mới biết ứng dụng thế nào cho phù hợp với đức tin và sống đạo Ki-tô giáo được.
          Thiền trên thế giới xưa
          Ngay từ thế kỷ III (trước Công nguyên), từ nước Ấn nhiều đoàn truyền (Phật) giáo đã được hoàng đế Asoka (AÌoka) phái đi về hướng Tây đến Ba Tư,… về hướng Đông đến Đông Á và Đông Nam Á. Riêng ở Việt Nam thì miền Bắc tiếp nhận Đại thừa từ Trung Quốc tới, miền Nam đón Tiểu thừa từ Thái Lan, Myanmar… truyền sang. Cũng tại Việt Nam, người Chăm được Ấn hóa (cùng với nhiều nước Đông Nam Á khác) từ rất sớm cũng theo Ấn giáo và Phật giáo (riêng người Chăm Châu Đốc sau này ngả theo đạo Hồi). Chính qua Phật giáo, nhất là Thiền tông, mà việc tham thiền trở thành quen thuộc đối với chúng ta.
          Ở Trung Quốc xưa, Yoga và Tantra đã ngầm ảnh hưởng rất mạnh đến y học và luyện công qua lý thuyết về huyệt (chakra hay luân xa) và lực đạo (nadi). Riêng việc luyện nội lực của một hai phái Đạo giáo: đưa tinh lực từ dưới dọc theo xương sống đi lên về phía huyệt Bách hội, thì đó là cách làm quen thuộc của những ai tu theo Sakti-giáo (Tantra) ở Bắc Ấn hay Phật giáo Mật tông (tantrika) ở Tây Tạng xưa.
          Về phía Tây, Thiền được truyền sang Trung Đông và Đông Âu khá sớm. Dấu vết nay còn tìm thấy trong lời cầu Định an (Hêsukhia) bên Giáo hội đông phương. Đây là lời kinh Xin Chúa thương xót (kurie eleison), lời kinh ấy có thể ngồi mà đọc, vừa đọc vừa tập trung vào rốn mà dùng ý đưa lên trái tim. Và, đây là phương pháp Yoga nói đến trong Chú giải – Yoga III.1. Bẵng đi một thời gian, gần đây Thiền tái xuất hiện với một bề thế khác hẳn, bắt đầu từ Âu Mỹ.
          Thiền tại Âu Mỹ gần đây
          Thiền được người Âu châu tái khám phá kể từ thế kỷ XVII qua giới nhà tu Ki-tô giáo. Số là những người như Di Nobili (1577 – 1656), rồi Monchanin và Henri Le Saux (thế kỷ XIX – XX) đã sang Tây trúc phổ đạo bằng con đường hội nhập văn hóa. Họ hội nhập bằng cách tu theo kiểu các tu sỹ bỏ đời (samnyasin) Bà-la-môn. Mà tu như thế thì cần cả sự hợp tác của thân thể nữa. Và, đây là các tọa thế (âsana) và việc điều tiết hơi thở (prânâ-yâma).
          Nhờ những nhà tiên phong này, Ki-tô giáo trời Âu mới hiểu được cái lợi của Thiền. Thế là nhũng người can đảm nhất bèn mời đón các guru (sư phụ Ấn) và thiền sư Phật giáo sang dạy. Cùng lúc ấy, thấy có thị trường xuất khẩu, nhiều bậc tôn sư khác cũng tự động sang mở các khóa thiền, mở luôn Thiền viện hay tu viện nữa. Trong số phải kể trước tiên đến các tu viện của tân Ấn giáo Ramakrisna Mission ở Pháp, Anh, Hoa kỳ…, trong đó người ta vừa thuyết pháp, vừa mở cửa cho những ai muốn vào tu tập một thời gian.
          Từ Đông Á, một số Thiền sư cũng sang thuyết pháp, dạy thiền và lập chùa. Trong số những vị được Âu Mỹ mến mộ, phải kể đến Hòa thượng Thích Thanh Từ của Trúc lâm Thiền viện Đà Lạt .
          Sau khi đã thụ giáo với các guru hay thiền sư rồi, một số tu sỹ Công giáo bắt đầu biến chế thiền để đưa thiền vào chiêm niệm chính thức Ki-tô giáo, trong số đó phải kể đến Thomas Merton, John Main, James Finley.
          Thế nhưng nếu chỉ nhắm sức khỏe suông, nếu chỉ luyện thiền để tránh stress mà không tuân giữ các quy tắc sống kèm theo, thì ích lợi sẽ rất hạn chế. Ngoài ra, có tu sỹ ngồi thiền mà lại quán (suy niệm) theo kiểu Tây, thì rút cuộc thiền chỉ là cái áo khoác không kém không hơn. Chính vì thế, trước khi dấn thân vào những kỹ thuật ấy, cần tìm hiểu đúng bản chất của chúng cùng với cả mớ những đòi hỏi kèm theo, nhờ đó xem cái gì phù hợp để khai triển, cái gì chưa phù hợp để biến chế, làm sao cho tất cả thích ứng được với niềm tin và đường lối Phúc âm của chúng ta. Nhưng trước hết, hãy xem thực sự Thiền đang được ứng dụng trên thế giới như thế nào đã.
          Thiền bắt đầu xâm nhập mạnh vào Phương Tây từ giữa thế kỷ XX, lúc mà giới trẻ học thức ở đó vùng lên trong các phong trào phản biện (contestation), chống lại xu hướng duy lý và những khuôn sống cứng nhắc xưa cũ, cũng như sự ngự trị của những xu hướng tân đại khác, như duy vật chất, duy kinh tế và duy hưởng thụ. Trước tiên, đó là đám hippy bên Mỹ muốn một cuộc sống phóng khoáng, không gò bó nhưng hưng phấn. Đó là đám sinh viên bất mãn thích đập phá bên Âu Châu, bắt đầu từ Paris năm 1968. Họ đập phá vì họ mong muốn một cái gì mới hẳn, nhưng lại không xác định được là gì. Riêng những nhà trí thức thì muốn phá bỏ những nền tảng cũ của văn minh tân đại, và đây là triết học duy lý khởi sụ với Descartes nó khai sinh cho khoa học và giúp phát triển nhanh công nghiệp và kinh tế Tây phương. Chống triết học duy lý nữa, một đằng thì có triết lý hiện sinh nó đề cao con người cụ thể, ở đây và lúc này (dasein), chỉ con người ấy mới có vấn đề như áo cơm, nhà ở để bận tâm (souci), chứ không phải con người trừu tượng.
          Lúc Tây phương không còn tin vào thế mạnh của mình nữa, cũng là lúc những con rồng và cọp Châu Á bừng thức, hiểu rằng mình cũng có những cái hay để xuất khẩu sang Âu Mỹ. Cái hay ấy không nằm ở súng ống và máy móc, nhưng ở cái nó giúp con người tìm ra chân hạnh phúc của mình, và đây là minh triết (wisdom) và các kỹ thuật tu luyện Đông phương. Quả thế, giàu có và quyền lực làm gì, khi mà người ta luôn bức xúc, âu lo, nhàm chán, đến nỗi phải chạy trốn bản thân (tức khỏi nội tâm) bằng cách lao mình vào hoạt động và các cuộc truy hoan, kể cả rượu và ma túy nữa! Cái mà thiền và minh triết Á đông có thể mang lại cho họ, đó là sự an lạc “mà thế gian không cho được” (Gio.14.27).
          Sự an lạc này, phải tìm ở chính mình, tức ở nội tâm, chứ không phải từ những gì tích góp từ bên ngoài. Cho nên phẳi vét rỗng khỏi mọi ham muốn, bằng lòng (santosa) với những gì đơn giản thôi, và đây cũng là “Tri túc giả phú” của Đạo đức kinh Lão tử. Minh triết phương Đông còn chỉ cho thấy rằng thân xác không phải chỉ là phương thế để thụ hưởng, để rồi đi tu không thụ hưởng nữa thì buông bỏ nó đi. Vâng, để tìm an lạc bên trong thì thân xác cũng đóng một vai trò quan trọng. Và đây là những tọa thế (âsana, do AS có nghĩa là ngồi) và sự điều hòa hơi thở (prânâ-yâma) chúng khiến tâm an định, nhờ đó có thể định thần.
          Bắt đầu hiểu ra đâu mới là giá trị thật của những món hàng Đông phương ấy, các cô cậu hippy không còn thích Yoga vì cái dáng vẻ rừng rú là lạ của nó nữa, và người ta nghiêm túc đi vào Thiền để tránh những cơn stress mà sự âu lo trong cuộc sống làm phát sinh quá dễ, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn (wellness). Dẫu sao chăng nữa, từ một phương trời xa xăm được nhổ sang trồng nơi đất lạ, Thiền ở tại Âu Mỹ không thể không biến dạng rất nhiều.
          Thiền là một trong những đường tu Phật giáo, Thiền không sử dụng các thế nhiêu khê của Yoga mãnh vận, mà chỉ ngồi Hoa sen hoặc bán kiết già (siddhâsana). Về vận tức cũng thế, thiền sư chỉ vận tức kiểu đơn giản, và vận tức mấy phút thôi để thanh lọc cơ thể trước khi điều hòa hơi thở cho êm nhẹ giúp dễ tập trung. Còn khi quán, có thể lấy (hình tượng) Đức Phật làm đối tượng tập trung, nhưng về sau, phải vượt trên mọi niệm tưởng để đi vào vô thanh vô sắc, hầu đạt sự hừng sáng sâu cao của Chân lý, nhờ đó giác ngộ. Xem ra, hơn mọi con đường khác, Phật giáo nhấn vào tính vô thường, tính Không của tất cả, dù của thực tại bên ngoài, dù của cái tâm bên trong.
          Ứng dụng Thiền trong Ki-tô giáo
          Không có gì ngăn trở người Công giáo tập thiền hay luyện Yoga. Vâng, người ta chỉ trình bày các thế và ích lợi của mỗi thế, kể cả ích lợi về mặt trị liệu và phòng bệnh. Như thế, Yoga như một thứ thể dục chỉ giúp ta có một sức khoẻ lành mạnh và dẻo dai. Cũng có sách Yoga nói thêm về cách ăn uống và cách sống của người luyện Yoga, một cách đơn giản thôi, chứ không cầu kỳ như trong kinh thư. Dẫu sao, ăn uống dương thanh, có chừng mực và sống tiết chế được như thế, thì chẳng những sức khỏe tốt, mà đức hạnh cũng tăng tiến luôn. Chỉ nên lưu ý rằng: tập thiền hay luyện Yoga thì các động tác phải chậm, nghịch lại với thể thao Tây phuơng vốn nghiêng về nhanh, mạnh và dồn dập, do đó hại cho cả nội tạng lẫn thần kinh. Lại nữa, nếu giữ được tâm thanh lặng theo tinh thần của thiền, thì đây là cách giảm stress (bấn tâm) và làm phát sinh niềm an lạc thanh tao.


 
          Với ai muốn tu thân, tốt nhất hãy vào thiền. Thiền đạo chú trọng nhất đến nội tâm, thiền hướng về Vô, cố đạt vô niệm tưởng. Thế mà Ki-tô giáo lại là Đạo nhập thể và huyền tích, có cả trong lẫn ngoài, cả hình thức lẫn siêu hình thức, nên trước khi đi vào vô sắc tướng và trực giác theo thiền môn, hãy suy niệm về Phúc âm một thời gian cho thấm sâu đã. Thiền sau đó sẽ đến, giúp ta có được những cảm nhận Phúc âm một cách đơn giản hơn, kế đó rời bỏ niệm tưởng cũng là phần nào đi vào đêm tối (nuits obscures) để chuẩn bị cho một thứ tri thức và tình cảm khác hẳn trong huyền nghiệm.
          Và bây giờ, để bắt đầu tham thiền, chúng ta hãy làm như sau:
           Trước hết, tập ngồi hoa sen, hay ít là bán kiết già. Hoa sen thì ngửa bàn chân phải gác lên đùi trái, ngửa bàn chân trái gác lên đùi phải. Bán kiết già chỉ gác một bàn chân thôi. Gác chân như thế hơi đau đấy, mà phải luyện sao hết đau thì tập trung mới dễ. Thường thì phụ nữ và trẻ em luyện rất nhanh, chứ không như đám mày râu. Có điều khi tập trung, các ông, nhất là khi có tuổi rồi, lại dễ tập trung hơn.
          Ngồi, phải liệu sao cho xương sống thẳng đứng. Để được thế, hãy tỳ hết trọng lượng trên một mình xương cùng thôi, do đó phải hơi ưỡn người lên, đồng thời hơi cúi đầu tí ti cho xương cần cổ cũng trên đường thẳng đứng ấy. Để dễ tập ngồi thẳng, có thể tựa thật sát lưng vào tường. Khi ngồi thẳng đã quen, thì xoay lưng lại (tức diện bích) như quen làm ở chùa, để khỏi phân tâm lúc tập trung. Sau khi ngồi xong, nên khẽ rùng mình một cái để các cơ bắp không cần đến chùng lỏng hết ra.
          Ngồi xong, đến lượt vận tức, rồi điều tức. Vận tức thì phải thở sâu, thở gắng. Vận tức kiểu thiền môn thì đơn giản thôi: hít 1 thì, nín 1 hay 2 thì, thở (ra) 1 thì, nín tiếp 1 hay 2 thì. Khi nín sau hít, có thể phình bụng ra. Khi nín sau thở ra, có thể thót bụng tới tận xương lồng ngực để ép khí ra hết.
           Khi hơi thở đã nhẹ êm lại rồi, hành giả có thể tập trung. Hãy tập trung vào sống mũi giữa hai con mắt, tập trung vào hơi thở vô ra, tập trung vào giữa (hoa sen) trái tim. Sau khi tâm trí tạm định được rồi, có thể chuyển sự tập trung sang một câu niệm thiêng liêng (mantra). Mantra nên đơn giản, dễ đọc, đọc như trôi đi rất trơn. Có người như John Main chọn câu Maranatha (Xin Chúa hãy đến). Theo tôi, cũng có thể chọn câu niệm truyền thống của Giáo hội Phương Đông là Chúa ôi (hít vô) thương xót (thở ra) (Kurie eleison), hay dài hơn: “Giêsu Con Thiên Chúa xin thương tôi là kẻ có tội”. Hoặc câu của James Finley (trong Christian meditation): (Ta) Chúa yêu con (hít vô), Con yêu Chúa (thở ra)…
          Có người cho rằng chỉ cần âm thanh là đủ, không cần ý nghĩa của câu niệm. Theo tôi, nếu âm thanh cũng đủ, thì đâu cần chọn câu này thay vì câu kia nữa. Có điều câu niệm là câu quen thuộc, quen cả ý nghĩa luôn, nên nếu đọc lên đều đều, thì ý nghĩa tôn giáo của nó vẫn phảng phất, và thế là đủ cho tâm hồn ta chìm vô cõi thiêng liêng, ngày càng vô thanh vô sắc. Cũng theo cùng một hướng vô thanh sắc và thoát tục như thế, hành giả có thể quán về Nước chảy mây trôi để cảm nghiệm tính bể dâu của tất cả, cùng lúc với sự Vĩnh hằng. Hoặc quán tưởng Thiên Chúa như một luồng sáng ấm áp và bao la đang trùm xuống trên tôi, trên chúng tôi (hay Thiên Chúa đang nói với tôi từ những sự vật bao quanh tôi, nhất là hoa lá), và tôi sẽ cảm thấy mình nhỏ bé đi và buông mình trong tay Cha xót thương, che chở… Vâng, để quán hay niệm trên hướng thiền thì tất cả phải đơn giản như thế, đồng thời căng hướng về vô thanh vô sắc hơn là niệm lý rõ ràng. Do đó, như trên kia đã nói, trước khi vào thiền, phải suy niệm nhiều về Phúc âm, hòng nhiễm lấy tinh thần Phúc âm một cách sâu xa trước đã. Để khi đi vào siêu niệm lý và trực nghiệm cụ thể như thế, thì trực giác này cũng xuôi theo đúng dòng chảy Tin mừng. Ngoài ra, trong thời gian chuyển sang tham thiền, người ta vẫn có thể lúc thì tham thiền khi lại trở về với suy niệm.
          Ngoài lúc tham thiền, cần phải sống tinh thần thiền. Nghĩa là trong công việc hãy luôn luôn bình tĩnh, và để lòng luôn an tịnh như thế, phải năng nhớ thở và kiểm soát hơi thở sao cho êm nhẹ, điều hòa. Còn ăn uống thì chọn những gì dương thanh, sống thì sống thanh thoát trong những tâm tình Từ (thương yêu), Bi (thương xót), Hỉ (vui), Xả (thoát tục). Vâng, hãy vui sống, nhân hậu, không tham sân và bằng lòng với những gì hiện có…
          Nếu ai đó muốn luyện thiền ở chùa để có bầu không khí, thì đây là điều rất tốt. Nhưng hãy chọn một chùa Thiền tông thì hơn, vì trong Thiền tông, người ta không quan tâm nhiều đến giáo lý. Dĩ nhiên là trong tiếp xúc hàng ngày, hành giả Công giáo không thể không gặp thứ ngôn ngữ và cách ứng xử của Phật môn, do đó ít nhiều chịu ảnh hưởng. Vậy, trước khi đến sống chùa, nên học giáo lý cho sâu, sống đạo cho vững, và khi ở chùa, đừng quên năng cầu nguyện.
 

Tác giả bài viết: Lm. HOÀNG SỸ QUÝ, S.J.

Chú ý: Quý vị đăng lại bài viết ở Website hoặc phương tiện truyền thông khác xin vui lòng  ghi rõ nguồn http://truongsinhhocds.com -Cám ơn!

Tổng số điểm của bài viết là: 146 trong 33 đánh giá

Xếp hạng: 4.4 - 33 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Nguyễn Minh Huệ

    Hôm nay em được nghe một chị (người Công giáo) giới thiệu về cách chữa bệnh bằng ngồi thiền Trường Sinh học. Nếu chỉ nghe nói về công dụng thì rất là tốt, chỉ đơn giản là ngồi thu năng lượng khí trời để tự chữa bệnh cho mình và có thể trị bệnh được cho người khác. Đọc bài này và theo dõi trên trang web này thì lại càng thấy sự tuyệt vời của môn dưỡng sinh Trường Sinh học. Tuy nhiên, để theo môn này thì người theo học phải được khai mở các luân xa, đọc một số các thảo luận khác thì được biết việc mở luân xa cũng như ngôi nhà mình mở cửa vậy,… cũng hơi nguy hiểm. Một số nơi thấy lớp học ở trên chùa, học xong về nhà ai cũng có thỉnh một tấm ảnh Sư Tổ mặc áo cà sa thấy sao mà có vẻ như theo Đạo Phật quá.
    Em rất muốn hỏi là Trường Sinh học có phải là môn học hướng theo Đạo Phật không? Người Công giáo có được phép khai mở luân xa và học cách chữa bệnh bằng phương pháp này không? Cảm ơn quý vị nhiều nhiều!...

     Nguyễn Minh Huệ  minhhueyenbai62@gmail.com  21/06/2013 11:01
. "Sức khỏe là vốn quý nhất của mọi con người và của toàn xã hội; là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và của mọi người dân; là trách nhiệm ... "
(Trích NQ TW4, Khóa VII) .
Bình luận mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây