Bệnh tim mạch và ứng dụng Thiền định

Chủ nhật - 16/12/2012 17:40

Bệnh tim mạch và ứng dụng Thiền định

Chứng đột quỵ là do một hay nhiều mạch máu trong não bị tắc nghẽn vì các chất như cholesterol tích tụ, gây bán thân bất toại hoặc tàn tật suốt đời hay tử vong. Những nghiên cứu và ứng dụng Thiền định trong Y học, nhất là cho chứng cao huyết áp, trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh tim và đột quỵ mang lại kết quả rất hữu ích và khích lệ.

          Bệnh tim bao gồm nhiều hình thức khác nhau, là bệnh gây tử vong nhiều nhất ở các nước phát triển, như ở Mỹ cứ 34 giây là có một người chết về bệnh này. Nguyên nhân thông thường là những mạch máu bị thu hẹp hay tắc nghẽn do chất mỡ tích tụ bên trong thành mạch máu, gây khó khăn cho máu lưu thông và cung cấp oxy đến tim. Các cơ thịt của tim bị thiệt hại do một nguyên nhân nào đó làm giảm sút khả năng bơm máu của tim đến các nơi khác trong hệ tuần hoàn. Khi tín hiệu nội điện (internal electrical signal) của tim bị xáo trộn làm tim không thể bơm máu một cách bình thường, nhịp tim trở nên rối loạn, lúc nhanh lúc chậm, gây vấn đề rắc rối cho tim.
          Sự bất thường của van tim là một nguyên nhân khác, 4 van tim thay nhau điều khiển lưu lượng máu vào hay ra khỏi tim. Van tim bị hẹp làm tim khó đẩy máu đi và nếu van tim bi hở làm máu bị rò rỉ trở lại, không bơm hết lượng máu.
          Các triệu chứng thông thường của bệnh tim là thở gấp, hồi hộp đánh trống ngực, yếu đuối, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, ra mồ hôi, cảm giác muốn ngất xỉu, vùng tim ngực bị đè ép, nặng nề, đau nhói và có khi lan ra kế cận đến lưng, quai hàm và tay.
          Có 2 cuộc thử nghiệm ở Mỹ ứng dụng Thiền tiên nghiệm vào những thập niên 1980 và 1990 cho thấy những người bị bệnh tim có thể giảm tỷ lệ tử vong xuống 30%. Bác sĩ Robert Schneider thuộc đại học Maharishi đã lên tiếng rằng đây là sự kiện phát hiện có ý nghĩa đáng kể, chứng tỏ Thiền định có thể được sử dụng như một phương pháp trị liệu hữu hiệu cho bệnh tim.
          Một thử nghiệm khác vào tháng 3 năm 2007, tại Đại học Pennsylvania thông qua tập Thiền trong 3 tháng và 6 tháng đối với những bệnh nhân sung huyết tim (congestive heart failure) cũng cho thấy rõ những cải thiện về phẩm chất đời sống, chứng trầm cảm, và sự giảm bớt số lần trở lại bệnh viện. Thiền định giúp giảm hạ tác động của hệ giao cảm (gây căng thẳng bức xúc) trong khi tăng cường khả năng của hệ phản giao cảm với tác dụng ngược lại.
          Tương tự, tại Trung tâm Y khoa Cidars Sinai, Los Angeles, Paul Labrador hướng dẫn một thử nghiệm khác với 103 bệnh nhân vành mạch tim (coronary heart disease). Trong số này, 52 bệnh nhân tập Thiền trong 16 tuần lễ và 51 bệnh nhân khác không tập Thiền để so sánh. Trước và sau cuộc thử nghiệm, bệnh nhân được thử máu, xét lý lịch y khoa, thử chức năng mạch máu và sự biến đổi nhịp tim. Kết quả là những bệnh nhân tập Thiền giảm hạ huyết áp rất đáng kể, cải thiện lượng đường và insulin trong máu, cũng như ổn định chức năng của hệ thần kinh tự động. Ngoài ra còn có những nguyên nhân phụ thuộc ảnh hưởng bệnh tim như thiếu vận động, thức ăn không lành mạnh, sự béo phì, sự căng thẳng búc xúc trong xã hội đa tạp, tạo ra những kích thích tố có hại như cortisol và những chất tác động truyền dẫn thần kinh, rất tai hại cho hệ tim mạch. Việc hành Thiền có tác dụng điều hợp hữu hiệu những căng thẳng, giảm hạ sự tiết ra các kích thích tố này. Thêm vào đó, phương pháp từ bi quán (compassion mediattion), hay trải tình thương đến những chúng sinh khác, được xem là có công năng tác động lên hệ phản giao cảm (parasympathetic) giúp nhịp tim chậm lại và gia tăng hệ số biến đổi của nhịp tim, nhờ đó tim được khỏe mạnh hơn và giảm nguy hiểm bị bệnh.

 
 

          Bác sĩ Vermon Barnes cũng hướng dẫn một thử nghiệm trên 111 trẻ vị thành niên và tìm thấy những em tập theo những khóa Thiền có khả năng làm tăng sự mở rộng huyết quản thêm 21% trong khi những em không tâp Thiền lại bị giảm đi 4%. Do đó đi đến kết luận rằng hành Thiền có thể thay thế cho các liều thuốc làm giảm hạ lượng mỡ trong cơ thể.
          Liên hệ đến bệnh tim có các chứng cao huyết áp và đột quỵ (tai biến mạch máu não). Trung bình cứ trong 8 người là có một người bị cao huyết áp, loại bệnh âm thầm thường không có triệu chứng rõ ràng nhưng lại rất nguy hiểm, có thể dẫn đến suy tim hay đột quỵ bất ngờ. Huyết áp do sức ép của máu lưu thông lên thành mạch khi tim co thắt đẩy máu đi. Số đo huyết áp bình thường là 120/80. Huyết áp trên giới hạn 135-140/85-90 được xem như bắt đầu có triệu chứng cao huyết áp. Bệnh này thường do các chất kết tụ bên trong mạch máu như cholesterol làm nghẽn sự lưu thông và do đó làm tăng huyết áp.
          Cũng cần kể thêm các yếu tố di truyền hay môi trường và hoàn cảnh sống dễ gây căng thẳng làm cơ thể tiết ra những kích thích tố bất lợi làm tăng huyết áp. Một trong những nghiên cứu cho thấy tập Thiền có thể làm giảm huyết áp đến 10.7/6.4 (ví dụ 140/90 – 10.7/6.4 = 129.3/83.4).
          Chứng đột quỵ là do một hay nhiều mạch máu trong não bị tắc nghẽn vì các chất như cholesterol tích tụ, gây bán thân bất toại hoặc tàn tật suốt đời hay tử vong. Những nghiên cứu và ứng dụng Thiền định trong Y học, nhất là cho chứng cao huyết áp, trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh tim và đột quỵ mang lại kết quả rất hữu ích và khích lệ.

۞: NGUYÊN THU

Theo: Trích "Thiền định và Trị liệu" (www.phatgiaovnn.com)

Tổng số điểm của bài viết là: 151 trong 37 đánh giá

Xếp hạng: 4.1 - 37 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

. "Sức khỏe là vốn quý nhất của mọi con người và của toàn xã hội; là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và của mọi người dân; là trách nhiệm ... "
(Trích NQ TW4, Khóa VII) .
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây