Thiền với người Công giáo

Thứ hai - 20/01/2014 17:38

Thiền với người Công giáo

Thiền Trường Sinh học do tiến sĩ Đasira Narada sáng lập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của một bộ phận người Việt nói riêng và nhân loại nói chung. Phương pháp Thiền Trường Sinh học chú trọng vào việc điều hòa năng lượng sinh học của cơ thể, đồng thời nuôi dưỡng đời sống tinh thần hòa ái, thương yêu giữa con người và con người.

        Thiền Trường Sinh học do tiến sĩ Đasira Narada sáng lập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của một bộ phận người Việt nói riêng và nhân loại nói chung. Phương pháp Thiền Trường Sinh học chú trọng vào việc điều hòa năng lượng sinh học của cơ thể, đồng thời nuôi dưỡng đời sống tinh thần hòa ái, thương yêu giữa con người và con người.
        Khách quan mà nói, đây là một phương pháp dưỡng sinh có hiệu quả thiết thực đối với nhân dân. Điều ấy được chứng minh bằng số lượng người đăng ký theo học ngày càng đông, thành phần tôn giáo đa dạng, không phân biệt thành phần tri thức, không xét đoán địa vị chính trị và địa vị kinh tế.
        Môn học thực sự là một phương pháp dưỡng sinh và dưỡng tâm có giá trị cao. Tôi xin trích dẫn nguyên văn một ý kiến phản hồi của bạn đọc trên trang Trường Sinh học nhân đọc bài: “Thiền với Ki-tô giáo” của Linh mục Hoàng Sĩ Quý như sau: “Đọc bài này và theo dõi trên trang web này thì lại càng thấy sự tuyệt vời của môn dưỡng sinh Trường Sinh học. Tuy nhiên, để theo môn này thì người theo học phải được khai mở các luân xa, đọc một số các thảo luận khác thì được biết việc mở luân xa cũng như ngôi nhà mình mở cửa vậy,… cũng hơi nguy hiểm. Một số nơi thấy lớp học ở trên chùa, học xong về nhà ai cũng có thỉnh một tấm ảnh Sư Tổ mặc áo cà sa thấy sao mà có vẻ như theo Đạo Phật quá. Em rất muốn hỏi là Trường Sinh học có phải là môn học hướng theo Đạo Phật không? Người Công giáo có được phép khai mở luân xa và học cách chữa bệnh bằng phương pháp này không? Cảm ơn quý vị nhiều nhiều!...”. Bài viết của Linh mục Quý đã phần nào giúp chúng ta giải tỏa tâm lý vướng mắc không chỉ của người công giáo mà còn của rất nhiều môn đồ của các tôn giáo giác. Hiểu lầm này xuất phát từ sự mặc định rằng: “thiền mang màu sắc tôn giáo” hay “thiền là một phương thức lôi kéo tín đồ”.
        Bên cạnh đó, trên trang sucsongchuakito.net có đăng tải bài viết: “Thiền và Nhân điện với tín hữu Công giáo của Tu sĩ Giuse Maria Trương Văn Trung cùng những nghiệm xét về Thiền có đôi phần khắt khe.
        Tất nhiên đúng thì có đúng nhưng có lẽ chưa biện chứng. Bởi lẽ khi cho rằng thiền khai mở luân xa là một “thần khí” dễ đưa con người đi vào lầm lạc và xa rời tinh thần “nguyện ngắm và chiêm nghiệm” của chúa Ki-tô thì vô tình bó hẹp phạm vi của Chúa – Thượng Đế. Nếu không suy nghiệm kỹ càng sẽ khiến cho một số bạn hữu ngần ngại khi muốn theo học phương pháp dưỡng sinh này. 
        Kính thưa quý bạn, trong kinh điển Cựu ước và Tân ước chưa từng nói đến việc Thiền là gì, khái niệm và phương thức của nó là như thế nào, giá trị và ích lợi của nó ra sao. Tuy nhiên không phải vì thế mà ta nói Công giáo không có Thiền hoặc diễn giải Thiền công giáo là thế này hay thế kia. Vì sao vậy, vì chúng ta dính mắc vào một khái niệm “thiền” rất khác nhau. Trường phái Yoga Ấn Âu, các trường phái võ công, các phương pháp dưỡng sinh Đông Á và đặc biệt là Phật giáo với cả một hệ thống về thiền mà mục đích của nó là trực chỉ chân tâm, kiến tánh để đạt sự bình an, hạnh phúc.
        Thiền không phải là sở hữu của bất kỳ một tôn giáo nào. Thiền ở góc độ nhất định cũng giống như khoa học – kỹ thuật, nó mang tầm nhân loại tính và đồng thời mang đến phúc lợi cho cả nhân loại chứ không riêng một chủng người nào. Y học hiện đại phương Tây không phải chỉ sinh ra cho người phương Tây sử dụng, công nghệ không gian không chỉ dành cho phương Tây thám hiểm… Cái gì thuộc tầm giá trị của nhân loại thì nó thuộc về nhân loại. Huống hồ, trong Cựu ước sáng thế Thiên chúa đã làm nên tất cả thì không lẽ nào lại bỏ quên Thiền. Chẳng qua chúng ta không tự nghiệm xét điều thẳm sâu vi diệu trong từng “hạt cải” trong từng “mảnh gỗ” trong từng “lời” mà ngài đã chỉ dẫn chúng ta. Xin thưa với quý bạn, Đức Ki-tô là một bậc thầy của Thiền, là người nắm giữ một chiếc chìa khóa khai mở luân xa vô cùng diệu dụng để khai sáng và đưa dòng năng lượng của Đức Chúa trời vào rửa sạch những ô trược trong cuộc đời mỗi con người.
        Khi chúng ta nhận thức được “Thiền là một trạng thái” thì chúng ta hoàn toàn có thể chấp nhận một người có thể “đi thiền”, “đứng thiền” và “nằm thiền” hay gần gũi nhất là “ngồi thiền”… đi, đứng, nằm ngồi là động tác, còn thiền là một trạng thái. Tuy vậy, muốn đạt được trạng thái “thiền” trong toàn bộ hoạt động của thể xác thì chúng ta phải chuyển thiền vào tâm định. Nghĩa là trạng thái thiền đã thấm vào trong từng lời nói, hành động và việc làm.
        Thiền Nhân điện của Dr Lương Minh Đáng (MEL) hay thiền Trường Sinh học (TSH) đều có nguồn gốc từ người khai sáng là Tiến sĩ Đasira Narada (1846 – 1924) người Srilanca (Tích Lan). Sự khác biệt nằm ở phương pháp và cách thức tổ chức các khóa học cho học viên với tinh thần “có thu phí” đối với trường phái của Dr Lương Minh Đáng và miễn phí đối với Trường Sinh học truyền thống của Tổ sư Đasira Narada. Nhưng điểm giống nhau là đều dùng năng lượng “điện” của người tu luyện nhiều năm để khai mở luân xa cho học viên.
        Vấn đề “khai mở luân xa” còn nhiều quan điểm tranh luận khác nhau. Ví như khái niệm khai mở 70%, 100%, hay đặt tay phụ bệnh khiến nhiều người nghi ngờ. Hay chỉ xem “khai mở luân xa” như một “học vấn mê tín” hay “tà đạo” hay “thần khí của Satan”… Để hiểu vấn đề này hơn ai khác, chúng ta phải tự thâm nhập và tự lý giải. Tôi thấy rằng rất nhiều Linh mục, tu sĩ… họ thật sáng suốt và cao đạo khi đánh giá Nhân điện có những vai trò và ý nghĩa tích cực trong cuộc sống con người. Rất nhiều vị được nhận “chìa khóa” cao cấp của môn Trường Sinh học là người công giáo. Và chỉ khi đó họ mới hiểu được những điều họ làm chính là ý chí của Thượng đế, là tinh thần kết nối giữa con người và vạn vật trong vũ trụ.
        Vấn đề của Thiền Trường Sinh học là giải quyết 3 vấn đề cơ bản theo từng cấp độ luyện tập, càng luyện tập lâu năm thì con người càng trở nên bình an và thánh thiện.
      Vấn đề thứ nhất: Thiền để góp phần trị bệnh tật thân xác.
      Vấn đề thứ hai: Thiền để có một nhân cách cao quý.
      Vấn đề cuối cùng: Thiền để giác ngộ, bình an trong cuộc sống.
        Nếu chúng ta có cả ba điều trên thì có lẽ chúng ta đã đạt được một “trạng thái thiền” thực sự trong từng giờ trôi qua và nếu chúng ta được như vậy mãi thì chẳng cần đến chuyện “để mà thiền” làm gì.
        Trong thực tế, Thiền đã trở thành một trạng thái, nó không còn chỉ đến cách thức nữa. Tuy nhiên, cơ địa và trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau nên để đạt được trạng thái ấy cần có một phương pháp cụ thể, phổ quát, nó mang tính giai đoạn và tinh thần rèn luyện công phu, khoa học. Thiền nói chung và Thiền Trường Sinh học nói riêng không quá khó đối với người học và khi học xong rồi người thực hành có thể tự mình thâm nhập vào trạng thái đích thực gọi là Thiền. Chúng ta đa số đang học thiền chứ không phải đã đạt đến trạng thái thiền như Đức Ki-tô.
        Trong Nhân điện hay Trường Sinh học có vấn đề đặt tay khai mở luân xa và dùng năng lượng sinh học thông qua đặt đôi bàn tay để trị bệnh cho người khác. Đây là một sự thật không thể phủ nhận sạch trơn. Trong Phúc Âm chúng ta thấy rất nhiều đoạn kể về việc Đức Giê-su chữa bệnh về thể xác và tâm hồn cho mọi người. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như việc chữa lành người bại tay (Lc. 6, 8-11), chữa người mắc bệnh phù thũng (Lc. 14, 1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (Lc. 13, 14)... Nhưng vấn đề quan trọng nhất là Ngài đã đánh thức sự thánh thiện, lòng biết ơn, sự hổ thẹn và thức sám hối của con người với những sai trái, mê mị và u tối phàm phu. Đó là sự khai sáng về Tâm.
        Từng lời Ngài nói là một trạng thái sâu thẳm của luân xa Tâm, khi mà con người phải lấy đức bi mẫn, bác ái, vị tha và rửa xả cho tội lỗi của những kẻ lầm lỡ. Thời tại thế, ngài thường giao du và tiệc tùng cùng những hạng người xấu xa, đồi bại, thậm chí là những kẻ phản phúc. Bởi đó là một tinh thần dấn thân để cứu chuộc, cũng giống như Tế Công, Đạt Ma ăn thịt, uống rượu như một phương tiện để cảm hóa chúng sinh nặng tội và u mê.
        Phải là một tâm hồn đại lượng và toàn thiện mới có thể ban phát sự cứu rỗi này cho nhân loại: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại...” (Lc. 6, 27-31). Để rồi trong câu lời của ngài còn có cả hương vị của máu tanh, của tội ác.


 
        Khi Chúa nói: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53). Tại sao lại có một lý luận nghe chướng tai như vậy? Bởi vì tâm chúng ta còn phàm, chúng ta quá tỉnh táo với cải bản ngã tham lam, ích kỷ, bon chen, lường gạt nhưng lại u mê và rồ dại với cái vị tha, bác ái, bao dung, độ lượng và cứu rỗi. Thế nên ngài mới nói: "Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em (Lc. 6, 27-31).
        Đó là một trạng thái thể nhập trọn vẹn vào trong vũ trụ và vào trong đời sống tâm thức toàn thiện. Chúng ta không tìm thấy một sự thánh thiện và bác ái nào hơn nên chính Ngài với: “việc làm, ý nghĩ, hành động” đã trở thành khuôn vàng thước ngọc. Thế mà sự thánh thiện ấy khiến nhân loại một thời xem là “điên rồ”, “hoang tưởng”.
        Cảnh Giê-su tử nạn trên thập tự giá mới thấy được cái “vô tội” và sự thánh thiện” nó mong manh và dễ bị tổn hại tới mức nào? Không có kẻ bảo vệ mà toàn là những kẻ lọc lừa, phản bội và sợ hãi. Chứng kiến cái chết của một người vô tội với hình phạt dã man đã khiến ta chẳng thể cầm lòng. Huống hồ là sự đớn đau tột cùng mà Đức Ngài phải gánh chịu. Nhân loại thấy hổ thẹn với lương tâm trong sáng của mình và đức tin thành kính trở thành ngọn lửa sáng, thắp nốt phần còn lại trong cuộc đời u tối của mỗi người.
        Nếu như Phật Thích Ca nói rằng người giác ngộ như đất trên móng tay còn kẻ vô minh thì như đất trong vũ trụ thì Giê-su bảo rằng: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Lc. 9, 58). Chỗ tựa đầu theo ý ngài có mấy ai thấm thía được!.
        Cũng như việc làm lễ rửa tội cho trẻ mới sinh. Nhiều người bảo rằng: “Nó mới sinh đã làm gì nên tội mà phải rửa”. Thì chúng ta cần hiểu rửa tội ở đây trong một trạng thái Thiền. Rửa tội khi này như một bí tích, nó là một đức tin: với đức hạnh của chúa trời, mọi tội lỗi đều được tẩy sạch, cuộc sống của đứa trẻ không còn vướng mắc vào chuyện quá khứ mà phải vun bồi trong hiện tại và tương lai. Chúa đã tưới tắm và làm nó trong sạch thì bậc cha mẹ, những người huynh trưởng phải vun bồi và có trách nhiệm với nó. Đó là biết làm theo lời Chúa. Với mong muốn rằng đứa trẻ ấy thành người tốt và có ích cho xã hội.
        Trước khi kết thúc bài viết xin được nói lại quan điểm của riêng tác giả: “Thiền là một trạng thái” nó không phải là một của sở hữu hay bảo bối của bất kỳ một tôn giáo nào, nó là cách mà mỗi chúng ta tìm thấy được chân tính và sự thánh thiện an lạc trong chính bản thân mình. Việc khai mở luân xa có ý nghĩa thế nào, việc “bị” hay “được” đặt tay lên đầu và “trị bệnh” là tốt hay xấu thì càng học thì ta càng vỡ lẽ ra nhiều.
        Khi con người gạt bỏ được bản ngã cố chấp, đinh ninh, tự cao tự đại thì cũng là lúc khai mở được luân xa thể tâm. Chuyện “chìa khóa” khai mở luân xa tạm chưa bàn đến. Tôi tin rằng những ai hiểu được ý nghĩa và tinh thần của môn học này sẽ trở thành những minh sư (những người đi trước đủ tư cách) để hướng dẫn mọi người theo học.
        Lời cuối, xin chúc cho những ai muốn trải nghiệm về môn học này sớm có nhân duyên theo học. Chúc mọi người ngồi thiền đạt được một trạng thái quân bình năng lượng cho cơ thể. Sau đó là được an lạc hạnh phúc. Đối với những Đức tin Công giáo thì hãy luôn yên tâm về quyền uy của Đức Ki-tô và sự bảo vệ của ngài luôn vượt khỏi giới hạn không gian và thời gian. Tất cả nằm trong đức tin của quý bạn. Và rằng, chúng ta phải tìm thấy điều an lạc từ bên trong – Thiền làm tốt điều ấy. Nhưng để thiền có hiệu quả chúng ta phải học để tránh sự mò mẫm hay sai lầm gây hậu quả không tốt. Mục đích chúng ta thiền là để đạt được ba điều mà cá nhân tôi đã chia sẻ ở trên.  
        Sự thực, chúng ta có thể ngồi trên đống tiền mà vẫn khổ, chúng ta có thể sở hữu hàng mớ những tiện nghi mà vẫn thấy cô độc lẻ loi, chúng ta còn chuỗi dài những mộng mơ bị bệnh tật hiểm nghèo làm thui chột… Hãy tìm lại chính mình, hãy khơi dậy niềm tin, nghị lực và sự sáng suốt trong bạn để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Thiền không bắt bạn phải trả giá mà thiền cho bạn một cơ hội để tìm thấy: “Nếu có thể, quý bạn sẵn lòng trả bao nhiêu tiền để mua được bình an?”.
 

۞: CHỈNH CA (Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Chú ý: Quý vị đăng lại bài viết ở Website hoặc phương tiện truyền thông khác xin vui lòng  ghi rõ nguồn http://truongsinhhocds.com -Cám ơn!

Tổng số điểm của bài viết là: 147 trong 33 đánh giá

Xếp hạng: 4.5 - 33 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Lưu Thị Hương

    Theo tôi biết thì hiện nay các tín đồ công giáo cũng hoc thiền do Linh mục Hoàng Minh Thắng hướng dần với tên gọi "Thiên Khí Năng"; Tuy có hơi khác, nhưng theo tôi vẫn là một dạng "Thiền". Nếu ai có quan tâm thì truy cập vào trang http://tongdomucvusuckhoe.net/noidung/category/thien-khi-nang
    để tham khảo sẽ được rõ ràng hơn.

      Lưu Thị Hương   huonglthac@gmail.com   21/01/2014 03:52
. "Sức khỏe là vốn quý nhất của mọi con người và của toàn xã hội; là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và của mọi người dân; là trách nhiệm ... "
(Trích NQ TW4, Khóa VII) .
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây