Thiền, trị được bệnh. Tại sao?

Chủ nhật - 20/10/2013 06:31

Thiền, trị được bệnh. Tại sao?

(TG&DT) – Tâm cũng là nguyên nhân chính đem đến cho mỗi cá nhân niềm hỷ lạc hạnh phúc. Và, một người có nhiều hạnh phúc thì người đó ít bệnh tật. Chúng ta thử tìm hiểu thế nào là hạnh phúc, để từ đó sẽ thấy Thiền đóng vai trò như là một thứ thuốc trị nhiều bệnh mà khoa học đã khám phá.

          (TG&DT) – Tâm cũng là nguyên nhân chính đem đến cho mỗi cá nhân niềm hỷ lạc hạnh phúc. Và, một người có nhiều hạnh phúc thì người đó ít bệnh tật. Chúng ta thử tìm hiểu thế nào là hạnh phúc, để từ đó sẽ thấy Thiền đóng vai trò như là một thứ thuốc trị nhiều bệnh mà khoa học đã khám phá.
          Tại sao con người không uống “thuốc tiên” không dùng các thức ăn trường sinh bất tử (nếu có), mà chỉ ngồi yên tĩnh mắt nhắm ngày hai lần tổng cộng vài chục phút, mà có thể trị được bệnh và có được các lợi ích thiết thực khác?
          Hơn hai ngàn năm qua Ngài Cồ Đàm đã tuyên thuyết “Vạn pháp duy tâm tạo”. Tình trạng căng thẳng (stress) do tâm làm cho chất hóa học cortisol xuất hiện, các tuyến nội tiết trong cơ thể sẽ tiết ra những kích thích tố để thay đổi môi trường và chức năng làm ảnh hưởng đến các bộ phận trong cơ thể, vì vậy mà có thể dẫn đến các bệnh như tim mạch, huyết áp và dạ dày cùng một số bộ phận khác.
          Tâm cũng là nguyên nhân chính đem đến cho mỗi cá nhân niềm hỷ lạc hạnh phúc. Và, một người có nhiều hạnh phúc thì người đó ít bệnh tật. Chúng ta nên tìm hiểu thế nào là hạnh phúc, để từ đó sẽ thấy Thiền đóng vai trò như là một thứ thuốc trị nhiều bệnh mà khoa học đã khám phá.
           1. Hạnh phúc là gì, ở đâu?
          “Hạnh phúc là niềm vui có được trong cuộc sống”. Nhiều cuộc nghiên cứu khoa học cho thấy hạnh phúc và khổ đau là hai hướng tác dụng đối nghịch. Hạnh phúc làm cho con người gia tăng sức khỏe và tuổi thọ, thấy đời đáng sống và đóng góp nhiều cho thành công cùng gia tăng hoạt động có ý nghĩa. Còn khổ đau thì ngược lại, gây nên bệnh tật, chán đời và thất bại. Giáo sư Ed Diener và các cộng sự cho rằng: Hạnh phúc do mỗi cá nhân nhận biết. Có ba loại chính:
          * Cảm xúc tích cực như thương yêu (mà nhà Phật gọi là “Từ nhãn thị chúng sanh” nghĩa là nhìn tất cả chúng sanh bằng cặp mắt thương mến).
          * Luôn luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, thỏa mãn với cuộc sống của chính mình.
          * Ít lo âu, ít giận hờn.
          Các cảm xúc nầy có thể phân chia thành sáu loại mà giáo sư Paul Ekman đề nghị: giận hờn, ngạc nhiên, khinh và ghê tởm, buồn rầu, hạnh phúc, sợ hãi.
          Qua đó, chúng ta có thể chia cảm xúc thành hai nhóm: Nhóm hạnh phúc và nhóm khổ đau. Các cảm xúc tiêu cực như giận hờn, ngạc nhiên, khinh khi, buồn chán và sợ hãi sẽ góp phần làm thương tổn sức khỏe.
          Khoa học cho biết niềm hạnh phúc nằm ở bên trái thùy não phía trước, và Thiền giúp cho vùng nầy được phát triển để gia tăng hạnh phúc và giữ cho hạnh phúc được lâu bền. Ngược lại, vùng tương ứng bên phải của não làm gia tăng hoạt động khổ đau như giận hờn, ghê tởm, buồn rầu,…
         Trong cuốn “Hạnh phúc đích thực" (Authentic Happiness), tiến sĩ Martin E.P. Seligman (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Tích cực (Positive Psychology Center), thuộc viện Đại học Pennysylvania, phân biệt các loại hạnh phúc lớn nhỏ khác nhau và từ đó có thể tìm ra phương thức làm cho hạnh phúc được lâu bền như sau:
          * Sự vui thích tích cực từ những sinh hoạt nhỏ của cá nhân như thưởng thức ăn miếng bánh ngon, uống tách trà thơm, nhìn trời qua khung cửa.
          * Niềm vui như được nghỉ để đi chơi với người yêu.
          * Đam mê một kế hoạch hấp dẫn.
          * Thích thú và yêu thương những gì mình đang có...
          Giáo sư Sonja Lyubomirsky và các đồng nghiệp trong 20 năm nghiên cứu và hằng trăm cuộc thí nghiệm, đã đưa đến kết luận là hạnh phúc đến từ ba yếu tố: Di truyền (Genetics), Tập luyện và Môi trường sống. Như thế, hạnh phúc được cấu tạo như sau:
            Hạnh phúc = Di truyền + Tập luyện + Môi trường.
          Trong sách “Làm thế nào để đạt được hạnh phúc đích thực” (The How of Happiness: A practical approach to getting the life you want), bà Sonja dùng hình ảnh chiếc bánh để mô tả xuất xứ của nguồn hạnh phúc. Theo đó, hạnh phúc có được do di truyền 50%, sự cố gắng của từng cá nhân (tập luyện) chiếm đến 40% và hoàn cảnh (môi trường) chỉ chiếm 10% mà thôi.
          Trở lại sáu cảm xúc mà chúng ta thấy ở trên, nếu muốn có thêm hạnh phúc ngoài yếu tố di truyền, chúng ta nên nhìn đời bằng khía cạnh tích cực, luôn luôn an lạc vui vẻ trong cuộc sống. Nói cách khác tâm luôn luôn yêu đời, an vui tự tại, không dính mắc hay “tâm Thiền” như bài thơ sau đây:

             “Sống không giận, không hờn, không oán trách
             Sống mỉm cười, với thử thách chông gai
             Sống vươn lên, theo kịp ánh ban mai
             Sống chan hòa, với những người chung sống
             Sống là động, nhưng lòng luôn bất động
             Sống là thương, nhưng lòng chẳng vấn vương
             Sống yên vui, danh lợi mãi coi thường
             Tâm bất biến, giữa dòng đời vạn biến.”

Hoặc:
             “Ta từ sinh tử về chơi,
              Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng”.


          Làm việc để nuôi sống bản thân, gia đình và phát triển đất nước. Nhưng với tâm Thiền, công việc có thể hoàn thiện nhanh hơn và tạo được một không khí thân thiện với những người xung quanh.
          Hạnh phúc và khổ đau có thể di truyền, nên chúng ta có thể nói rằng, tánh tình và lối sống vui buồn của bà mẹ, nhất là trong thời kỳ thai nghén, rất ảnh hưởng đến cuộc đời của đứa bé về nhan sắc, tính khí và thông minh của người con.
          Ngày nay, các nhà thần kinh học đã tìm ra vùng làm phát sinh niềm sung mãn trong bộ não cùng các mạch thần kinh chuyển vận niềm vui này. Do đó, sự thực hành làm phát sinh hỷ lạc trở thành dễ dàng và cụ thể hơn để mang lại nhiều ích lợi cho người thực hành, nhất là làm gia tăng định tâm trong khi làm việc nuôi sống gia đình và đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội.
          Theo bác sĩ Gregory Fricchione, M.D. Giám đốc trung tâm Y Khoa về Thân/Tâm: Lúc hành Thiền thì trạng thái sinh lý trong cơ thể được thay đổi, các gene sẽ hoạt động ngược chiều với sự căng thẳng. Do đó, bạch huyết cầu được gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh hơn và có khả năng chống lại các vi khuẩn và vi trùng làm hại cơ thể và các bệnh tật bắt đầu thuyên giảm (Theo Nguyệt san Tâm, Thái độ và Trí nhớ, Mind, Mood and Memory, tháng 9-2008).

 

Bình minh trên bờ biển Vũng Tàu.

          Y học cũng cho thấy, Thiền làm cho vùng võ nảo phía trước bên trái gia tăng niềm vui, tâm hồn mạnh mẽ. Lúc đạt được trạng thái nầy thì người đó sẽ có các hiện tượng tâm sinh lý:
          * Tăng hạnh phúc, tăng bạch huyết cầu, tăng hệ thống miển nhiễm và sức khỏe.
          * Tánh tình tích cực và hoạt bát lanh lợi trong việc giải quyết các khó khăn.
          * Chất hóa học cortisol được giảm, huyết áp thấp, nhịp đập của tim chậm.
          * Phục hồi nhanh sau những tai nạn (nếu có).
          2. Thiền thay đổi cấu trúc con người, vì gene thay đổi
          Cuộc thí nghiệm trên hai nhóm. Nhóm A có 19 người đã hành Thiền trong nhiều năm. Nhóm B cũng 19 người chưa hề hành Thiền. Bắt đầu là khám nghiệm để biết sự biểu hiện gene (gene expression) của cả hai nhóm. Kế tiếp là hướng dẫn nhóm B (chưa bao giờ thực hành Thiền) Thiền hành trong 8 tuần lễ để xem sự biểu hiện của gene như thế nào. Kết quả, nhóm B mới thực hành Thiền chỉ 8 tuần lễ nhưng gene cũng biểu hiện tốt đẹp như nhóm A; hành Thiền lâu năm.
          Gene biểu hiện một tiến trình cho thấy sự di truyền từ cha mẹ đến con như mắt xanh, tóc đen, da trắng… được chứa đựng trong một phân tử dài gọi là DNA từ cha mẹ đến con cháu.
          Thiền có khả năng làm cho gene hoạt động theo chiều tích cực khi DNA chuyển qua RNA và chuyển thành chất đạm. Chất đạm trong tế bào được hợp thành bởi một hỗn hợp 20 chất acit amino (amino acids), khác nhau có hình của một quả banh bằng dây quấn lại. Tất cả các bộ phận trong người chúng ta như tim, gan, bao tử, lá lách, ruột, phổi, xương, máu, tế bào thần kinh,… được tạo bởi các chất đạm này.
          Những cuộc nghiên cứu trẻ em sanh đôi cho thấy mặc dù gene quyết định sự di truyền nơi con người, nhưng con người cũng có khả năng làm cho một số gene tăng hay giảm hoạt động theo chiều hướng tích cực mà chúng ta muốn.
          Và, cuộc nghiên cứu cho thấy thực hành Thiền làm cho sự biểu hiện của một số gene trở thành tốt hơn. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn, dưới đây, việc khám phá Thiền làm thay đổi sự hoạt động của gene; gene là nền tảng căn bản của đời sống chúng ta. Nếu gene phát triển tốt thì toàn thể sự sống của chúng ta, từ thể chất đến sự hoạt động của các tế bào và các cảm xúc của chúng ta, sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt. 
          Kết quả là chúng ta sẽ có hạnh phúc tăng, bệnh giảm, khỏe mạnh hơn, linh hoạt hơn, thông minh hơn, trí nhớ tốt hơn và trường thọ hơn. Nguyệt san sức khỏe “Mind, Mood and Memory”, số tháng 9 năm 2008 ghi lại lời phát biểu của Bác sĩ Fricchione, Giám đốc Trung tâm Y Khoa Thân/Tâm như sau: "Cuộc thí nghiệm cho thấy, thực hành Thiền làm thay đổi sinh lý trong cơ thể như huyết áp hạ, thở giảm và tim đập chậm hơn. Một số gene thay đổi ngược chiều với lúc bị căng thẳng, và sự hoạt động của gene trong hai nhóm mới và cũ giống nhau.
          3. Thiền giúp trẻ ra, già muộn, sống lâu, sống khỏe
          Bác sĩ Michael F. Roizen và bác sĩ Mehmet C. Oz, trong cuốn “Cẩm nang hướng dẫn cách trẻ dai già chậm” (YOU: Staying Young: The Owner's Manual for Extending Your Warranty, by Michael F. Roizen, Mehmet Oz, 2007), cho biết tuổi già liên hệ đến nhiều thứ trong cơ thể chúng ta:
          Trong tế bào có những sợi nhiễm sắc thể (chromosome) như những sợi dây quấn mà cuối đầu dây có các phần nhỏ gọi là telomeres, tương tự như dây buộc giày có hai đầu nhỏ cứng để xỏ vào lỗ. Mỗi lần tế bào sinh sản (bằng cách tách đôi) thì các telomeres ngắn đi. Telomeres có nhiệm vụ làm cho tế bào sinh sản, khi telomeres ngắn dần thì khả năng sinh sản cũng từ từ biến mất. Khi tế bào không thể sinh sản để giúp cơ thể thì nó tự hủy (apoptosis). Nhiều tế bào chết thì cơ thể càng già yếu dần. Cuộc nghiên cứu chia hai nhóm người có telomeres dài và ngắn. Người có telomeres dài thì sống 5 năm lâu hơn người có ngắn telomeres. Chúng ta cần biết thêm là các telomeres có nhiệm vụ phòng ngừa các nhiễm sắc thể trong các tế bào kết lại với nhau hoặc là thay đổi cấu trúc. Nếu tình trạng thay đổi bất thường xảy ra thì có thể đưa đến ung thư.
          Bác sĩ Roizen trong sách trên báo động: "Những người bị căng thẳng thì có 50% tolemeres ngắn hơn những người ít bị căng thẳng. Thiền làm giảm căng thẳng nên cũng làm giảm nguy cơ tolemeres bị ngắn quá sớm do căng thẳng gây ra".
          4. Bệnh tăng, già mau, chết sớm vì căng thẳng
          Khi căng thẳng xuất hiện, hệ thần kinh giao cảm bị kích động, các tế bào thần kinh tiết ra chất norepinephrine và nang thượng thận tiết ra chất epinephrine hay adrenaline. Adrenaline làm cho tim và bắp thịt gia tăng hoạt động. Hệ đối giao cảm vận hành làm tiết ra chất acetylcholine để tái tạo sự quân bình cho cơ thể. Hệ thần kinh nội tiết cũng sản xuất chất CRH (corticotrophin-releasing hormone) để góp phần vào việc duy trì sự thăng bằng. 
          Chất CRH được chuyền đến tuyến yên (pituitary gland). Tuyến yên tiết ra chất ACTH (adrenocorticotropic hormone), và chất nầy theo máu chuyển đến nang thượng thận để kích thích bộ phận này nhằm tạo ra chất cortisol có nhiệm vụ tạo sự quân bình trong cơ thể’.
          Bác sĩ Herbert Benson cho rằng có đến trên 60% bệnh tật là do căng thẳng gây ra. Qua các cuộc nghiên cứu, ông tin tưởng: Thiền giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng và mỗi cá nhân là một bác sĩ cho chính mình (self-care).
          5. Tình trạng và nguồn gốc căng thẳng
          Căng thẳng là gốc của bệnh tật. Những dấu hiệu của sự căng thẳng (Theo Consumer Report On Health, tháng 10-2008):
          * Tâm: Giận, buồn, cáu, hoảng sợ, khó ngủ.
          * Thân: Khó chịu bao tử, nhức đầu, mệt, bắp thịt căng, nghiến răng.
          * Ăn nhiều hơn, hoặc bỏ ăn, ưa uống rượu.
          Có hai nguồn chính:
          a. Di Truyền: gene chứa các yếu tố di truyền. Nhạy cảm dễ mất ăn mất ngủ. Số khác ăn ngủ dễ. Nhóm ba, giữa hai nhóm đó.
          b. Hoàn cảnh và môi trường: Bị sách nhiễu tình dục lúc nhỏ; Nghề nghiệp; Làm việc nhiều; Gánh nhiều bổn phận như chăm sóc cha mẹ bệnh, con học; Gia đình bất ổn; Đi đường kẹt xe; Môi trường ô nhiễm.
          Căng thẳng lâu sẽ thành kinh niên. Nếu là trẻ em thì sẽ chậm lớn. Người lớn thì đời sống buồn chán, bệnh phát sinh như cao huyết áp, máu nhiều mỡ,…
          6. Thiền là cách để định Tâm, giảm căng thẳng, tăng an lạc
          Thiền là sự tập trung ý tưởng vào một vật và không suy nghĩ đến cái gì khác. Có thể ngồi trên gối, trên ghế hay trên bậc thềm xi măng đều được. Mục đích chính là định được tâm trong thời gian hành Thiền. Nhưng nếu ngồi Thiền được theo thế kiết già hay thế bán kiết già thì tốt nhất. Quý vị vui lòng đến lớp học chính quy để được hướng dẫn trực tiếp, không nên học từ xa qua tài liệu, sách vở,… Chỉ thực hành ngồi Thiền theo đúng phương pháp đã được hướng dẫn. Và, nên nhớ rằng đây là Thiền trị bệnh (meditation for health) chứ không phải Thiền giác ngộ (meditation for enlightenment), hay các pháp môn thiền khác nên không sợ bị tẩu hỏa nhập ma. Ngoài ra, chế độ ăn uống điều độ và tập thể dục hàng ngày phù hợp cũng rất cần cho sức khỏe.
           7. Kết luận
           Nhiều năm qua khoa học gia và y giới phương Tây đã tìm thấy MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THIỀN, NÃO BỘ VÀ SỰ CĂNG THẲNG LIÊN HỆ ĐẾN BỆNH TẬT VÀ PHƯƠNG THỨC CHỮA TRỊ. Một lần nữa, lời dạy của nhà Phật đã được chứng minh thêm: Thiên đàng – Địa ngục, Hạnh phúc – Khổ đau đều do Tâm; Tâm chủ động Tâm tạo tác; Bệnh tại Tâm.
          “Sinh – Già – Bệnh – Chết”, rồi ai cũng phải đi qua. Không ai mong cầu không bệnh, dù có mong cầu cũng chỉ phí công, nhưng ít bệnh và sống đời hạnh phúc an lạc có lẽ cũng là tiên trên đời rồi. Thuốc Nam, thuốc Bắc và tân dược cũng có giới hạn và còn nhiều phản ứng phụ cũng như tốn tiền. Nên chăng, song song với y dược hiện đại, mỗi người mỗi ngày dành ra hai lần Thiền, mỗi lần ngồi tập tối thiểu 40 phút, thân tâm an lạc hơn, hạnh phúc hơn, đẹp hơn, thông minh hơn, chống được nhiều bệnh tật và chậm lão hóa.     
           Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc.
 
* Thoát bệnh ung thư nhờ... ngồi im như tượng.

 

۞: HỒNG QUANG

Theo: Tôn giáo & Dân tộc

Tổng số điểm của bài viết là: 143 trong 32 đánh giá

Xếp hạng: 4.5 - 32 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

. "Sức khỏe là vốn quý nhất của mọi con người và của toàn xã hội; là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và của mọi người dân; là trách nhiệm ... "
(Trích NQ TW4, Khóa VII) .
Bình luận mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây